**. Tương quan là ý nghĩa ở mức 0.01 (2 đuôi).
*. Tương quan là ý nghĩa ở mức 0.05 (2 đuôi).
dữ liệu phản ánh mối tương quan cao giữa các biện pháp khác nhau của quản lý vốn lưu động. Mối tương quan giữa chu kỳ thuần thương mại (NTC) và Chu kỳ chuyển đổi tiền tệ (CCC) là (0.729), NTC và ITID là (0.689), CCC và APP (-0,655), CCC và ITID là (0,631), CCC và ACP ( 0,599) và (0,533) giữa NTC và ACP. Điều này đã được xem xét trong phân tích hồi quy để tránh vấn đề đa colinearity. Hệ số tương quan giữa đòn bẩy tức là tỷ lệ nợ tài chính và lợi nhuận thuần từ hoạt động có mối quan hệ tiêu cực đáng kể điều này cho thấy sự gia tăng trong việc sử dụng nợ của các công ty sẽ làm giảm lợi nhuận. Tương tự như vậy, các khoản nợ ngắn hạn với tỷ lệ tổng tài sản có mối quan hệ tiêu cực với lợi nhuận hoạt động của công ty. Kích thước của công ty, tính theo logarit tự nhiên của bán hàng, có một mối quan hệ tích cực với khả năng sinh lời của công ty. Điều đó ngụ ý rằng kích thước có liên quan với sự gia tăng trong hoạt động của công ty. Tương tự như vậy tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng cũng có liên quan với sự gia tăng lợi nhuận của các công ty vì sự gia tăng doanh số bán hàng có liên quan với sự gia tăng lợi nhuận. Một trong những mối quan hệ giữa toán hiện hành và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là trái ngược với niềm tin truyền thống trong đó cho thấy một mối liên hệ thuận giữa toán hiện hành và lợi nhuận. 4.3. Mô hình thực nghiệm tác động của hoạt động quản lý vốn cho các doanh nghiệp hiệu năng cho lĩnh vực sản xuất cũng được ước tính bằng cách sử dụng phân tích dữ liệu bảng. Một xét nghiệm cổ điển cho các dữ liệu bảng điều khiển là một trong những mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên so với mô hình hiệu ứng cố định. Trong mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên người ta cho rằng có một đánh chặn chung duy nhất, nó thay đổi từ công ty để làm săn chắc một cách ngẫu nhiên. Trong mô hình hiệu ứng cố định, nó giả định chặn cụ thể công ty và các hiệu ứng chụp của các biến đó được cụ thể cho mỗi công ty và liên tục theo thời gian. Tạp chí Quốc tế Nghiên cứu Kinh tế Tài chính - Số 47 (2010) 158 hệ số hồi quy được ước lượng bằng cả cố định và ngẫu nhiên hiệu ứng để xác định hai mô hình này là phù hợp. Sử dụng Hausman kiểm tra, quyết định được đưa vào sử dụng mô hình hiệu ứng cố định. Đề cập đến mô hình 3.1, nơi WCM được sử dụng như một vector của ACP, ITID, APP, CCC và NTC, kết quả ước lượng của dữ liệu bảng điều khiển sử dụng mô hình hiệu ứng cố định cho 204 doanh nghiệp (năm 2040 quan sát) được thể hiện trong Bảng 4 sau. Bảng 4: Ảnh hưởng của công tác quản lý vốn vào doanh nghiệp Hiệu suất của ngành sản xuất (1998- 2007)
đang được dịch, vui lòng đợi..
