Thuật ngữ, thuộc Việt Nam đề cập đến cấp hành chính đơn vị thứ hai, dưới tỉnh (tỉnh) và trực thuộc Trung ương quản lý thành phố (thành phố rục thuộc trung ương). Đơn vị cấp thứ hai này được gọi là một "nằm" trong khu vực nông thôn, trong khi ở khu vực đô thị huyện là một trong hai "trực" (tiểu đơn vị của các thành phố trực thuộc Trung ương quản lý), "Thành phố rục thuộc tỉnh" (tỉnh thành phố) hoặc "thị xã" (thị xã). 28 tháng 11 năm 2011, Việt Nam có 698 "Quận" bao gồm các thành phố tỉnh 55, 47 trấn, 47 đô thị tiểu đơn vị, và 549 huyện nông nghiệp (bao gồm 12 huyện đảo).[4]Huyện Việt Nam thay đổi đáng kể trong cả hai dân số và khu vực. Ngoại trừ các huyện đảo, đông dân nhất là Biên Hoà (thành phố cấp tỉnh) với 784,398 người; ít dân nhất là thị xã Mường Lay (11,650). Tương tự, huyện lớn nhất là Mường Tè (3,677.4 km²) trong khi nhỏ nhất là quận ("trực") 4 của thành phố Hồ Chí Minh với diện tích là chỉ 4,18 km².[4]
đang được dịch, vui lòng đợi..
