effect of conceptualising biological types and physical forces. Pource dịch - effect of conceptualising biological types and physical forces. Pource Việt làm thế nào để nói

effect of conceptualising biologica

effect of conceptualising biological types and physical forces. Pourcel also notes blended types of moving Figure constructed in, for example, fiction and myth. The empirical investigations reported in the second half of the chapter, including earlier experiments conducted with Anetta Kopecka, lend support to Pourcel’s major hypothesis that the conceptualisation of the domain of motion is centred around the Figure schema rather than ground, path, manner or causal motivations. The most general claim here is that a figure-based typology of motion is universal, irrespective of the way particular languages syntactically code motion and manner. The final part of the volume, Section VIII, contains three papers that go beyond the conceptualisations of spatial relations between physical objects. If spatial conceptualisation is somehow fundamental in the human mind, then should we not expect to find it motivating conceptual domains that are not themselves to do with the physical domain? This question has been behind the observations noted by psychologists and linguists at least since the 1970s. (Interestingly, as Daniel Casasanto notes in his chapter, a similar idea is to be found in an 1898 essay by Jules Lafargue, the son-in-law of Karl Marx.) In Chapter 17, Casasanto takes up some of the key questions that we have seen recurring throughout this book. In particular, Casasanto addresses the question of spatial metaphors in language and their relationship to non-linguistic cognition, using spatial metaphors for time as his ‘test bed’. Despite the abundance of linguistic observations in the linguistics literature, we still need to know whether people think about time in spatial terms even when they are not using language, thus whether there are purely mental spatial metaphors for time. We need to know if mental metaphors are universal and whether using a particular language to think or speak about time makes us think in ways constrained by the way those languages encode time concepts. We also need to know if any similarities between linguistic and non-linguistic metaphors for time are simply that, similarities, or causally related. In addition to time metaphors, Casasanto extends his empirical investigation of spatial metaphors to the experience of musical pitch. These particular cases serve to help us understand how humans manage to come up with abstract concepts in the first place, an ancient puzzle for the philosophy of mind. If the answer is indeed that it is a capacity for metaphor that facilitates abstract conceptualisation, then this result could be intriguingly consistent with the notion of exaptation in evolutionary biology. According to Casasanto, the experimental evidence points clearly both towards the use of spatial metaphors in thinking about time (but not vice versa) and towards the influence of particular linguistic encoding on non-linguistic spatial metaphors, and this not merely in a ‘thinking for speaking’ sense. Chapter 18 also concerns the nature of spatial metaphors for time. As has been seen, many investigators assume that frames of reference, which essentially are Cartesian coordinate systems, provide the basis for the analysis of spatial cognition, whether linguistically expressed or not. Jörg Zinken raises the question of whether frames of reference are therefore also relevant to the description of the abstract conceptualisation of time. He also asks, as Zlatev and Pourcel do for motion, whether the existing typologies for the concept of time are adequate for further cognitive-linguistic investigation. The answer to this last question is that existing assumptions need to take into account the rich anthropological literature concerning cultural variation in the understanding
0/5000
Từ: -
Sang: -
Kết quả (Việt) 1: [Sao chép]
Sao chép!
effect of conceptualising biological types and physical forces. Pourcel also notes blended types of moving Figure constructed in, for example, fiction and myth. The empirical investigations reported in the second half of the chapter, including earlier experiments conducted with Anetta Kopecka, lend support to Pourcel’s major hypothesis that the conceptualisation of the domain of motion is centred around the Figure schema rather than ground, path, manner or causal motivations. The most general claim here is that a figure-based typology of motion is universal, irrespective of the way particular languages syntactically code motion and manner. The final part of the volume, Section VIII, contains three papers that go beyond the conceptualisations of spatial relations between physical objects. If spatial conceptualisation is somehow fundamental in the human mind, then should we not expect to find it motivating conceptual domains that are not themselves to do with the physical domain? This question has been behind the observations noted by psychologists and linguists at least since the 1970s. (Interestingly, as Daniel Casasanto notes in his chapter, a similar idea is to be found in an 1898 essay by Jules Lafargue, the son-in-law of Karl Marx.) In Chapter 17, Casasanto takes up some of the key questions that we have seen recurring throughout this book. In particular, Casasanto addresses the question of spatial metaphors in language and their relationship to non-linguistic cognition, using spatial metaphors for time as his ‘test bed’. Despite the abundance of linguistic observations in the linguistics literature, we still need to know whether people think about time in spatial terms even when they are not using language, thus whether there are purely mental spatial metaphors for time. We need to know if mental metaphors are universal and whether using a particular language to think or speak about time makes us think in ways constrained by the way those languages encode time concepts. We also need to know if any similarities between linguistic and non-linguistic metaphors for time are simply that, similarities, or causally related. In addition to time metaphors, Casasanto extends his empirical investigation of spatial metaphors to the experience of musical pitch. These particular cases serve to help us understand how humans manage to come up with abstract concepts in the first place, an ancient puzzle for the philosophy of mind. If the answer is indeed that it is a capacity for metaphor that facilitates abstract conceptualisation, then this result could be intriguingly consistent with the notion of exaptation in evolutionary biology. According to Casasanto, the experimental evidence points clearly both towards the use of spatial metaphors in thinking about time (but not vice versa) and towards the influence of particular linguistic encoding on non-linguistic spatial metaphors, and this not merely in a ‘thinking for speaking’ sense. Chapter 18 also concerns the nature of spatial metaphors for time. As has been seen, many investigators assume that frames of reference, which essentially are Cartesian coordinate systems, provide the basis for the analysis of spatial cognition, whether linguistically expressed or not. Jörg Zinken raises the question of whether frames of reference are therefore also relevant to the description of the abstract conceptualisation of time. He also asks, as Zlatev and Pourcel do for motion, whether the existing typologies for the concept of time are adequate for further cognitive-linguistic investigation. The answer to this last question is that existing assumptions need to take into account the rich anthropological literature concerning cultural variation in the understanding
đang được dịch, vui lòng đợi..
Kết quả (Việt) 2:[Sao chép]
Sao chép!
ảnh hưởng của khái niệm hóa dạng sinh học và các lực lượng vật lý. Pourcel cũng lưu ý các loại pha trộn di chuyển hình xây dựng, ví dụ, tiểu thuyết và huyền thoại. Các điều tra thực nghiệm báo cáo trong nửa thứ hai của chương, bao gồm các thí nghiệm trước đó được tiến hành với Anetta Kopecka, cho vay hỗ trợ cho giả thuyết chính Pourcel rằng việc khái niệm của lĩnh vực chuyển động trung vào các giản đồ hình chứ không phải là mặt đất, con đường, cách thức hay động lực nhân quả . Những tuyên bố chung nhất ở đây là một cách phân loại con số dựa trên chuyển động là phổ quát, không phân biệt cách ngôn ngữ đặc biệt cú pháp chuyển động mã và cách thức. Phần cuối cùng của khối lượng, mục VIII, có ba loại giấy tờ mà đi vượt ra ngoài quan niệm của quan hệ không gian giữa các đối tượng vật lý. Nếu khái niệm hóa không gian bằng cách nào đó là cơ bản trong tâm trí con người, sau đó chúng ta không nên mong đợi để tìm thấy nó lĩnh khái niệm thúc đẩy mà không phải là bản thân để làm với các miền vật lý? Câu hỏi này đã được phía sau những quan sát ghi nhận của nhà tâm lý học và ngôn ngữ học ít nhất kể từ những năm 1970. (Thật thú vị, khi Daniel Casasanto ghi chú trong chương của mình, một ý tưởng tương tự được tìm thấy trong một bài viết năm 1898 bởi Jules Lafargue, con trai-trong-pháp luật của Karl Marx.) Trong Chương 17, Casasanto chiếm một số trong những câu hỏi quan trọng mà chúng ta đã thấy định kỳ trong suốt cuốn sách này. Đặc biệt, Casasanto giải quyết các câu hỏi của các ẩn dụ không gian trong ngôn ngữ và mối quan hệ của họ để nhận thức phi ngôn ngữ, sử dụng phép ẩn dụ không gian cho thời gian là 'giường kiểm tra "của mình. Bất chấp sự phong phú của các quan sát ngôn ngữ trong văn học ngôn ngữ học, chúng ta vẫn cần phải biết liệu mọi người nghĩ về thời gian về không gian, ngay cả khi họ không sử dụng ngôn ngữ, do đó cho dù có những ẩn dụ không gian thuần túy tinh thần cho thời gian. Chúng tôi cần phải biết nếu ẩn dụ về tinh thần phổ quát và cho dù sử dụng một ngôn ngữ cụ thể để suy nghĩ hay nói về thời gian làm cho chúng ta suy nghĩ theo cách hạn chế bởi cách những ngôn ngữ mã hóa các khái niệm thời gian. Chúng ta cũng cần phải biết nếu có điểm tương đồng giữa ẩn dụ về ngôn ngữ và phi ngôn ngữ cho thời gian chỉ đơn giản rằng, tương đồng, hoặc duyên hệ. Ngoài ẩn dụ thời gian, Casasanto mở rộng điều tra thực nghiệm của ông về phép ẩn dụ về không gian kinh nghiệm của các sân âm nhạc. Những trường hợp đặc biệt được dùng để giúp chúng tôi hiểu làm thế nào con người quản lý để đến với những khái niệm trừu tượng ở nơi đầu tiên, một câu đố cổ xưa cho triết lý của tâm. Nếu câu trả lời thực sự nó là một năng lực cho phép ẩn dụ tạo điều kiện cho khái niệm hóa trừu tượng là, sau đó kết quả này có thể là Thú vị phù hợp với khái niệm exaptation sinh học tiến hóa. Theo Casasanto, các bằng chứng thực nghiệm đã chỉ rõ ràng cả hai hướng đến sử dụng phép ẩn dụ không gian trong suy nghĩ về thời gian (nhưng không phải ngược lại) và hướng tới sự ảnh hưởng của mã hóa ngôn ngữ đặc biệt vào những phép ẩn dụ không gian phi ngôn ngữ, và điều này không chỉ đơn thuần là một 'suy nghĩ nói 'cảm giác. Chương 18 cũng liên quan đến bản chất của ẩn dụ về không gian thời gian. Như đã thấy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khung tham chiếu, trong đó chủ yếu là Cartesian phối hợp hệ thống, cung cấp cơ sở cho việc phân tích nhận thức về không gian, cho dù ngôn ngữ thể hiện hay không. Jörg Zinken đặt ra câu hỏi về việc liệu quy chiếu do đó cũng có liên quan đến các mô tả của việc khái niệm trừu tượng của thời gian. Ông cũng yêu cầu, như Zlatev và Pourcel làm cho chuyển động, cho dù typologies tồn tại đối với các khái niệm về thời gian là đủ để điều tra về nhận thức, ngôn ngữ hơn nữa. Câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng này là giả định hiện hành cần phải đưa vào tài khoản các tài liệu nhân học phong phú liên quan đến sự thay đổi văn hóa trong sự hiểu biết
đang được dịch, vui lòng đợi..
 
Các ngôn ngữ khác
Hỗ trợ công cụ dịch thuật: Albania, Amharic, Anh, Armenia, Azerbaijan, Ba Lan, Ba Tư, Bantu, Basque, Belarus, Bengal, Bosnia, Bulgaria, Bồ Đào Nha, Catalan, Cebuano, Chichewa, Corsi, Creole (Haiti), Croatia, Do Thái, Estonia, Filipino, Frisia, Gael Scotland, Galicia, George, Gujarat, Hausa, Hawaii, Hindi, Hmong, Hungary, Hy Lạp, Hà Lan, Hà Lan (Nam Phi), Hàn, Iceland, Igbo, Ireland, Java, Kannada, Kazakh, Khmer, Kinyarwanda, Klingon, Kurd, Kyrgyz, Latinh, Latvia, Litva, Luxembourg, Lào, Macedonia, Malagasy, Malayalam, Malta, Maori, Marathi, Myanmar, Mã Lai, Mông Cổ, Na Uy, Nepal, Nga, Nhật, Odia (Oriya), Pashto, Pháp, Phát hiện ngôn ngữ, Phần Lan, Punjab, Quốc tế ngữ, Rumani, Samoa, Serbia, Sesotho, Shona, Sindhi, Sinhala, Slovak, Slovenia, Somali, Sunda, Swahili, Séc, Tajik, Tamil, Tatar, Telugu, Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Điển, Tiếng Indonesia, Tiếng Ý, Trung, Trung (Phồn thể), Turkmen, Tây Ban Nha, Ukraina, Urdu, Uyghur, Uzbek, Việt, Xứ Wales, Yiddish, Yoruba, Zulu, Đan Mạch, Đức, Ả Rập, dịch ngôn ngữ.

Copyright ©2025 I Love Translation. All reserved.

E-mail: